image banner
THÂN THẾ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA NHÀ CÁCH MẠNG - LIỆT SỸ TÔ HIỆU (1912 - 1944)

PHẦN I - KHÁI LƯỢC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU (?/?/1912 - 07/3/1944) 

              Đồng chí Tô Hiệu sinh năm 1912 trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) - quê hương của phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) nổi danh trong cả nước.


anh tin bai

Đốc Nam Tô Thị từ đường và nhà tưởng niệm đồng chí Tô Hiệu, Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Hưng Yên

 

              Xuân Cầu - Nghĩa Trụ là một miền quê cổ có từ thời Hùng Vương, một vùng  “địa linh nhân kiệt”, có truyền thống hiếu học, đất khoa bảng, sản sinh nhiều danh sỹ hiền tài cho đất nước, tiêu biểu như nhà văn Nguyễn Công Hoan, danh họa Tô Ngọc Vân, nhà cách mạng Tô Chấn, chiến sỹ cộng sản tiêu biểu Lê Văn Lương, Tô Quang Đẩu, Tô Gĩ… Làng Xuân Cầu với 3 thôn: Tam Kỳ, Phúc Thọ, Lê Cao nằm trải dài trên hữu ngạn của sông Nghĩa Giang. Thôn Tam Kỳ đã có lịch sử tồn tại trên 2000 năm từ thời các vua Hùng dựng nước, là nơi đặt từ đường họ Tô thờ cụ Đốc Nam và nhà tưởng niệm đồng chí Tô Hiệu. Tại đây có Giếng cổ Tam Kỳ được coi là giếng cổ lâu đời nhất tại nước ta, có niên đại trên 12 thế kỷ (cách đây 1.200 năm). Giếng được xây dựng từ thời kỳ nhà Đường đô hộ nước ta, xây dựng một cách vững chắc và độc đáo với nhiều lớp cối đá bao quanh, miệng giếng bao xung quanh bằng đá xanh với những vết hằn sâu kín nước qua hàng trăm năm. Về mặt tâm linh, từ ngàn xưa người ta tin rằng giếng của làng là nơi tụ linh khí nên thôn thường phong tục kiêng lấp giếng.


              Họ Tô nhiều đời là dòng họ khoa bảng, yêu nước. Ông nội đồng chí Tô Hiệu là cụ Tô Ngọc Nữu, đốc học Nam Định. Khi Tự Đức ký hiệp định đầu hàng Pháp, cụ từ chức về quê dạy học. Cụ kết thân với cụ Ngô Quang Huy, đốc học Bắc Ninh, sau này là ông ngoại của đồng chí Tô Hiệu. Cũng như cụ Nguyễn Thiện Thuật, cụ Ngô Quang Huy được vua Hàm Nghi phong tước Tán Tương quân vụ, là một lãnh tụ rất có uy tín trong phong trào Bãi Sậy do cụ Nguyễn Thiện Thuật (tức Tán Thuật) lãnh đạo. 

 

              Thân sinh đồng chí Tô Hiệu là ông Tô Y và bà Ngô Thị Lý (bà là con gái danh tướng Ngô Quang Huy, thân mẫu của đồng chí Tô Hiệu được nhân dân địa phương kính trọng vì lòng yêu nước quả cảm, có công nuôi dưỡng bảo vệ cán bộ cách mạng, đã được suy tôn là một trong những bà mẹ tiêu biểu, gương mẫu của phong trào phụ nữ cách mạng tỉnh Hải Hưng trước đây nay là tỉnh Hưng Yên), gia đình có 5 anh chị em: Tô Tu, Tô Chấn, Tô Thị Xuyến, Tô Thị Phúc và Tô Hiệu. Tuổi thơ vất vả, cha mất sớm, đồng chí Tô Hiệu lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của mẹ và các anh chị.


              Anh cả Tô Tu (1901 - 1977), người cha mẫu mực, người trưởng họ có uy tín, sống đức độ, thanh bạch và ngay thẳng. Mới 15 tuổi, phải sang Lào làm thuê để cùng mẹ nuôi các em. Sau cách mạng Tháng Tám, ông làm Trưởng phòng kế toán tài vụ cho nhiều cơ quan nội ngoại thương ở Việt Bắc, Hà Nội và về hưu năm 1966. Năm 1975, hai năm trước ngày mất, ông biên soạn lại gia phả họ Tô chi cụ Đốc Nam và tự hào viết: 

“Họ ắt có phả, nước ắt có sử để ghi chép hệ thống chi phái… Trải qua các đời đến tôi là 11 đời, dòng dõi thư hương vẫn còn xanh tươi”.

 

              Tô Chấn (1904 - 1936) là người trực tiếp giác ngộ Tô Hiệu theo cách mạng. Là Lãnh tụ chủ chốt của Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1930, Tô Chấn tiến hành mưu sát Toàn quyền Đông Dương, việc chưa thành, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình, sau giảm án xuống tù chung thân và đày ra Côn Đảo. Ở đây, Tô Chấn hăng hái tham gia đấu tranh và hoạt động theo khuynh hướng cộng sản, là thành viên Ban Lãnh đạo Chi bộ nhà tù Côn Đảo. Cuối năm 1936, Tô Chấn vượt ngục cùng Ngô Gia Tự và một số đồng chí khác, nhưng kế hoạch không thành, đồng chí  hy sinh trên biển.


anh tin bai

Chân dung đồng chí Tô Chấn. Ảnh: Sưu tầm

              Phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương, ngay từ năm 14 tuổi, khi đang theo học tại trường Pháp - Việt ở thị xã Hải Dương, đồng chí Tô Hiệu đã tham gia các phong trào yêu nước của học sinh như bãi khoá, truy điệu, để tang cụ Phan Chu Trinh, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu. Vì vậy, năm 1926, đồng chí Tô Hiệu bị đuổi học.

              Từ năm 1927 - 1929, đồng chí lên Hà Nội, ở nhà anh cả Tô Tu để học cao đẳng tiểu học. Trong thời gian này, đồng chí tiếp tục tham gia các hoạt động đấu tranh cách mạng. Qua thử thách, năm 1929, đồng chí được kết nạp vào Học sinh đoàn, một tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.

anh tin bai

Đồng chí Tô Hiệu lúc học Cao đẳng Tiểu học. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Cuối năm 1929, đồng chí vào Sài Gòn hoạt động cùng với anh ruột là Tô Chấn, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án 4 năm tù, đày đi Côn Đảo. Trong thời gian bị giam cầm tại Côn Đảo, đồng chí kiên cường tham gia đấu tranh trong tù, tích cực học tập lý luận cách mạng, được bồi dưỡng trở thành đảng viên cộng sản giàu nhiệt huyết và có bản lĩnh vững vàng.

anh tin bai

Lao động khổ sai tại hầm say lúa, nhà tù Côn Đảo nơi đồng chí Tô Hiệu bị giam giữ những năm 1930 - 1934. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí bị đánh đập tra tấn, bị giam vào hầm xay lúa cùng với đồng chí Tôn Đức Thắng. Hầm xay lúa được bọn cai ngục gọi là “khu trừng giới”, nơi đầy đọa tù nhân bằng những hình phạt khủng khiếp. Không gian chật chội, âm thanh ầm ĩ, không khí bụi bặm, oi bức và ngột ngạt cùng với chế độ ăn uống kham khổ, lao động cực nhọc, sức khoẻ đồng chí Tô Hiệu ngày một yếu và bắt đầu bị nhiễm bệnh lao. Tuy vậy, đồng chí vẫn kiên cường tham gia đấu tranh trong tù, đã biến những ngày tháng bị đọa đày ở ngục tù Côn Đảo thành thời gian để hoàn thiện tri thức, nhất là về lý luận và phương pháp hoạt động cách mạng, đồng thời thâu lượm các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn cho mình. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và là lớp đảng viên đầu tiên của Đảng.

              Sau 4 năm bị giam giữ, năm 1934 đồng chí được mãn hạn tù, đồng chí bị thực dân Pháp quản thúc tại làng Xuân Cầu. Trong thời gian bị quản thúc tại quê hương, với tinh thần trách nhiệm cao, quan tâm đến giáo dục, đào tạo thế hệ cách mạng cho mai sau, đồng chí đã vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của xây dựng Trường Kiêm Bị Xuân Cầu. Bản thân đồng chí còn trực tiếp dạy học ở quê hương. Mặc dù bị quản thúc nhưng đồng chí không chịu khuất phục, vừa gây dựng phong trào cách mạng ở quê hương, vừa tìm mọi cách vượt qua sự bao vây, phong tỏa của địch để bắt liên lạc với Đảng. Năm 1936, đồng chí Tô Hiệu cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) và nhiều đồng chí khác xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng và chỉ đạo phong trào đấu tranh của quần chúng đòi dân sinh, dân chủ ở Hà Nội và vùng phụ cận. Tại một cuộc họp trên căn gác ở phố Hàng Bột, Xứ ủy Bắc Kỳ đã được thành lập, đồng chí Tô Hiệu được bầu là ủy viên Thường vụ Xứ ủy, phụ trách các tỉnh miền duyên hải, lấy Hải Phòng làm trung tâm. Đồng chí đã tổ chức lại ban chỉ đạo các tỉnh, thành và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh lớn ở Thành phố Hải Phòng.

              Tháng 2/1939, đồng chí được Trung ương phân công về phụ trách Liên khu B (bao gồm các tỉnh miền duyên hải Bắc Bộ và Hải Dương, Hưng Yên), trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Đồng chí Tô Hiệu đã tích cực chỉ đạo, đưa phong trào cách mạng ở đây lên cao, gây nhiều tiếng vang mạnh mẽ trong và ngoài nước, tiêu biểu như cuộc bãi công của 1000 thợ xẻ (4/1939), 1500 công nhân Cảng (5/1939) và đặc biệt là cuộc bãi công của hơn 3000 công nhân Nhà máy Tơ Hải Phòng…

anh tin bai

Tư liệu: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Ngày 1/12/1939, đồng chí Tô Hiệu đến cơ sở in ở xóm thợ Thượng Lý (Hải Phòng) kiểm tra việc in truyền đơn chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới thì bị địch bắt. Mặc dù kẻ thù đã tra tấn dã man, ra sức mua chuộc, chuyển qua hết đề lao Hải Phòng lại Hỏa Lò (Hà Nội) nhưng không thể lay chuyển được ý chí cách mạng kiên cường của đồng chí Tô Hiệu. Cuối tháng 12/1939, chúng đã xử mức án 5 năm tù và đày đồng chí đi Nhà tù Sơn La. Lên tới Sơn La, thực dân Pháp coi đồng chí Tô Hiệu là một phần tử đặc biệt nguy hiểm nhưng chúng lại lấy lý do nhân đạo vì đồng chí đang mắc bệnh lao phổi nặng nên giam riêng biệt tại phòng giam hình tam giác chưa đầy 4m2 cuối dãy trại giam chéo.

anh tin bai

Thân nhân đồng chí Tô Hiệu thăm nơi giam đồng chí Tô Hiệu tại nhà tù Sơn La, 1999. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Cuộc sống gian khổ ở nhà tù kéo dài và bệnh tật đã tàn phá sức khỏe của đồng chí Tô Hiệu. Đến tháng 10 năm 1941, đồng chí Tô Hiệu thôi không giữ chức Bí thư chi bộ Nhà tù, song vẫn là cố vấn đặc biệt tin cậy của Chi ủy và là Trưởng ban huấn luyện, đào tạo cán bộ của nhà tù. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Nhà tù, tổ chức đời sống trong tù rất quy mô và khoa học. Đã thành lập ủy ban Nhà tù để lãnh đạo mọi mặt. ủy ban Nhà tù lại tổ chức ra các ban: Trật tự trong, Trật tự ngoài, Kinh tế, Cứu tế, Hồng thập tự, Dân vận, Binh vận, Học tập và xuất bản báo Suối Reo… để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho anh em tù nhân, tôi luyện bản lĩnh và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng. Cuối năm 1943, Chi bộ Nhà tù Sơn La đã được Ban chấp hành Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ công nhận là Chi bộ đặc biệt, phụ trách Nhà tù Sơn La và phong trào cách mạng ở tỉnh Sơn La.

              Do căn bệnh hiểm nghèo và chế độ hà khắc của nhà tù, vào hồi 10 giờ 15 phút, ngày 7/3/1944, đồng chí Tô Hiệu hy sinh tại Nhà tù Sơn La ở tuổi ba mươi hai trong niềm tiếc thương vô hạn của anh em, đồng chí. Đồng chí được an táng tại Nghĩa địa Gốc Ổi (nay là Nghĩa trang liệt sỹ Nhà tù Sơn La).

anh tin bai

Nơi đồng chí Tô Hiệu hi sinh. Ảnh: Sưu tầm

PHẦN II- NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC

1- Đồng chí Tô Hiệu là một người yêu nước, một chiến sỹ cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên của Đảng, trí tuệ, kiên trung, bất khuất, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của dân tộc.

              Ngay từ nhỏ, Tô Hiệu đã tỏ ra thông minh và học giỏi, khiến bạn bè và anh em trong gia đình, dòng họ khâm phục. Năm 10 - 12 tuổi, khi học xong trường làng, Tô Hiệu được gia đình cho xuống Hải Dương học trường tỉnh. Tiếp nối truyền thống yêu nước của gia đình, dòng họ, quê hương, khi mới 14 tuổi, Tô Hiệu đã tham gia các phong trào bãi khóa, để tang cụ Phan Châu Trinh nên đã bị nhà trường thực dân đuổi học. Khi chuyển lên Hà Nội học, Tô Hiệu vẫn tích cực tham gia các phong trào yêu nước. Và tại đây, đồng chí được kết nạp vào Học sinh đoàn - một tổ chức của Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, làm nhiệm vụ tuyên truyền, kết nạp người vào các đoàn thể quần chúng, đi dự mít tinh, biểu tình, phát truyền đơn, treo cờ, giăng biểu ngữ, dán áp phích vào những ngày lễ hội hay ngày kỷ niệm như ngày 1/5, ngày 7/11... Do hoạt động tích cực, Tô Hiệu đã được tổ chức vào tổ thanh niên xích vệ, có nhiệm vụ đi bảo vệ những cuộc mít tinh, biểu tình, bảo vệ các đồng chí cán bộ diễn thuyết.

anh tin bai

Đồng chí Tô Hiệu chụp ảnh cùng các đồng chí (từ trái sang phải) Nguyễn Công Bông, Tô Quang Đẩu, Tô Khôi, Lê Giản, Tô Duy tại quê hương Xuân Cầu. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Năm 1930, sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng, thực dân Pháp khủng bố dã man tất cả các phong trào yêu nước. Nhiều đồng chí cán bộ cách mạng bị bắt. Tô Hiệu bị mật thám theo dõi gắt gao, sau khi xin ý kiến tổ chức, đồng chí theo người anh ruột Tô Chấn, một lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng lúc ấy, vào Nam hoạt động. Sau kế hoạch ám sát tên toàn quyền Nam Dương Đơ-gờ-rép và tên toàn quyền Đông Dương Pas-ki-ê không thành, Tô Hiệu, Tô Chấn và một số người khác đã bị thực dân Pháp bắt, xử rất nặng. Tô Hiệu lúc ấy mới 18 tuổi, đã bị chúng kết án 4 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo.

anh tin bai

Đồng chí Tô Hiệu bị đày ra Côn Đảo khi mới 18 tuổi. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Biết đồng chí Tô Hiệu còn rất trẻ, nhiều triển vọng, có nhiều phẩm chất của một người cộng sản kiên cường, khi ra tù nhất định sẽ góp phần không nhỏ vào việc gây dựng và phát triển phong trào cách mạng trong quần chúng nhân dân của Đảng ta, các đồng chí lớn tuổi hơn, hoạt động lâu năm và có nhiều kinh nghiệm hơn như các đồng chí Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng…đã dành nhiều thời gian, công sức bồi dưỡng đồng chí Tô Hiệu hệ thống lí luận chủ nghĩa Mác- Lênin, Luận cương chính trị của Đảng, kinh nghiệm vận động quần chúng công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh vận, kinh nghiệm công tác bí mật… ở tù, Tô Hiệu học tập không tiếc sức mình vì biết rằng rồi đây trong cuộc đấu tranh cách mạng gay go, ác liệt sắp tới, anh sẽ phải huy động toàn bộ sức lực và trí tuệ, sẽ cần những lý luận sắc bén và kinh nghiệm vận động cách mạng mà anh được các đồng chí truyền lại.  Cũng tại đây, Tô Hiệu chính thức trở thành đảng viên của Đảng cộng sản Đông Dương.

              Lòng yêu nước, tư tưởng tiến bộ cách mạng của người chiến sỹ cộng sản Tô Hiệu còn thể hiện ở tinh thần hiếu học và mong muốn đồng bào được học hành, mở mang kiến thức. Sau khi mãn hạn tù, năm 1934, Tô Hiệu trở về làng Xuân Cầu. Tại quê hương, dù vẫn bị mật thám và bọn lý dịch trong làng theo dõi, Tô Hiệu không ngừng tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao dân trí, dân sinh, nâng cao thể lực của thanh niên. Đồng chí đã lập ra “Hội nông dân tương tế”, tổ chức cho thanh niên trong làng tập võ, đánh cờ tướng… Đồng chí còn mở lớp dạy học tại nhà cho trẻ em trong làng. Qua lớp học, đã giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc cho các em. Dù bọn lý dịch sách nhiễu, nhưng được nhân dân ủng hộ, lớp học của đồng chí Tô Hiệu vẫn hoạt động bình thường. Không chỉ vậy, với mong muốn thế hệ trẻ trong vùng được mở mang kiến thức, Tô Hiệu đã vận động bà con trong làng và người làng làm ăn ở xa góp công, góp của xây dựng Trường Kiêm Bị Xuân Cầu, một hình thức trường tiểu học chỉ có ở huyện lỵ lúc ấy. Để dễ vận động bà con và củng cố mối đoàn kết xóm làng, đồng chí đã đề ra khẩu hiệu: “Kẻ góp của, người góp công; mong sao cho trường học chóng xong; tinh thần đoàn kết muôn năm!”

anh tin bai

Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

              Là một đảng viên cộng sản, Tô Hiệu chú ý đến công tác xây dựng Đảng từ rất sớm. Cũng trong thời gian ở quê hương, Tô Hiệu còn bí mật tuyên truyền, vận động quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng. Nhà cụ Cả Y, thân mẫu đồng chí Tô Hiệu, trở thành một cơ sở cách mạng tin cậy của Đảng, là nơi nuôi giấu nhiều cán bộ trong Xứ ủy Bắc Kỳ như các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Huy Liệu... Tô Hiệu còn vận động, tuyên truyền lý tưởng cộng sản cho thanh niên yêu nước các vùng lân cận. Chi bộ cộng sản đầu tiên ở huyện Văn Lâm ra đời có sự đóng góp không nhỏ từ những lần tuyên truyền của đồng chí Tô Hiệu. Xứ ủy Bắc Kỳ được thành lập tại căn gác nhỏ phố Hàng Bột (Hà Nội). Trong thời gian là Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Tô Hiệu chú trọng công tác tuyên truyền, rải truyền đơn, dán áp phích, nhằm thông báo cho dân chúng biết Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn tồn tại. Đồng thời, đồng chí còn đặc biệt coi trọng đấu tranh trên lĩnh vực báo chí. Đồng chí sáng lập ra tờ Chiến Đấu, cơ quan tuyên truyền của Liên tỉnh B, bản thân đồng chí vừa là chủ bút, vừa là phóng viên. Đồng chí còn giác ngộ, đào tạo nhiều cán bộ cách mạng. Nhiều đồng chí được Tô Hiệu đào tạo ngày ấy, đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước như đồng chí Nguyễn Thanh Bình (nguyên ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư), đồng chí Hoàng Ngân (Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc Việt Nam), đồng chí Ngô Minh Loan (nguyên Bộ trưởng Bộ Lương thực- Thực phẩm)… Bên cạnh đó, đồng chí Tô Hiệu còn rất quan tâm đến công tác công vận, lấy các cuộc đấu tranh của công nhân làm nòng cốt cho phong trào cách mạng của quần chúng. Do vậy, chỉ trong khoảng từ tháng 3/1939 đến tháng 8/1939, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Hải Phòng, đứng đầu là đồng chí Tô Hiệu, Hải Phòng đã có tới 30 cuộc đấu tranh, bằng số cuộc đấu tranh của cả hai năm 1937, 1938 cộng lại. Các cuộc đấu tranh do đồng chí Tô Hiệu trực tiếp lãnh đạo đều nổ ra một cách vang dội. Điển hình là cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy Tơ (5/1939). Báo Bạn Dân ra ngày 21/6/1939 khẳng định đây là “cuộc đấu tranh kiên quyết nhất, có kỷ luật, có tổ chức, có giác ngộ giai cấp… là một tấm gương tranh đấu cho toàn thể anh em lao động toàn Xứ”. Báo cáo của bọn mật thám thực dân ngày 5/6/1939 ghi “Cuộc đình công ở Nhà máy Tơ là kết quả của một cuộc tuyên truyền, vận động bền bỉ, dẻo dai do một chi bộ hoạt động trong nhà máy chủ trương”. 

              Ý chí kiên cường của Tô Hiệu đã khiến quân thù phải khiếp sợ. Thời gian bị đày ra Côn Đảo, Tô Hiệu đã nhiều lần tham gia tổ chức vượt ngục, sự việc bại lộ, các đồng chí đều bị bọn cai ngục tra tấn, hành hạ dã man. Tô Hiệu bị giam trong khám với những người tù chính trị “đặc biệt nguy hiểm”. Tuy bị lao phổi, nhưng đồng chí vẫn cần mẫn học hành, trau dồi tri thức và kinh nghiệm hoạt động cách mạng. Những năm ở quê, bọn mật thám thực dân, bọn hào lý trong làng tuy biết Tô Hiệu tổ chức các hình thức hoạt động cho thanh niên là nhằm giác ngộ cách mạng mà vẫn không làm gì được. Khi trường Kiêm Bị Xuân Cầu do Tô Hiệu đứng ra vận động bà con góp sức xây dựng, tên Công sứ Bắc Ninh cũng phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” về dự lễ khánh thành…

              Phẩm chất cộng sản kiên trung, bất khuất của Tô Hiệu còn được thể hiện khi đồng chí bị thực dân Pháp bắt lần 2, tại Hải Phòng. Dù bị bọn mật thám đánh đập dã man, đồng chí vẫn không hề hé răng tiết lộ tài liệu, cơ sở cách mạng. Trong phiên tòa xét xử Tô Hiệu và các đồng chí của mình, khi bị luận tội, dù thân thể tàn tạ do bệnh tật và đòn roi quân thù, đồng chí vẫn hiên ngang, dõng dạc tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc là con đường đúng đắn. Đặc biệt, ý chí sắt đá, kiên trung của Tô Hiệu thể hiện rõ nhất khi đồng chí bị đày ở nhà tù Sơn La. Dù bị đói rét và bệnh lao quái ác hành hạ, Tô Hiệu vẫn quyết không gục ngã. Tô Hiệu cùng với các đồng chí của mình biến nhà tù Sơn La thành trường học cách mạng, thành nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng. Đồng chí đã không ngừng làm việc, viết các bài tuyên truyền, lý luận cách mạng, lãnh đạo anh em tù đấu tranh với quân thù, khiến bọn cai ngục và chính tên Công sứ Sơn La Cút - xô khét tiếng gian ác phải nể phục, run sợ.  

              Trong thời gian ở Nhà tù Sơn La, được bầu là Bí thư Chi bộ Nhà tù, Tô Hiệu vừa chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, vừa quan tâm thành lập các tổ chức trong nhà tù (vì lúc ấy, tù chính trị ở Sơn La còn có cả những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng). Đồng chí Tô Hiệu đã vượt lên bệnh tật để tổ chức công tác giáo dục trong tù, viết nhiều tài liệu quan trọng cho Chi bộ, mở các lớp chính trị, quân sự, văn hóa, bồi dưỡng giảng viên, hướng dẫn các cuộc đấu tranh… Đặc biệt, trong hoàn cảnh lao tù, Chi bộ đã mở được Đại hội đại biểu toàn nhà tù bao gồm đại biểu các trại. Đại hội đã thành lập cơ quan điều hành thực hiện Nghị quyết của Đại hội là Uỷ ban Nhà tù, thảo luận chủ trương đấu tranh với bọn thống trị như chánh sứ, giám binh, xếp ngục, binh lính và viên chức của bọn cai trị. Đại hội còn bàn công tác vận động quần chúng và binh lính địch, bàn việc xây dựng đời sống nhà tù cả về chính trị, văn hoá và đời sống vật chất. Sau khi được Đại hội bầu, Uỷ ban Nhà tù đã tổ chức ra các ban giúp việc như Ban kinh tế, Ban cứu tế, Ban văn hoá giáo dục, Ban trật tự trong, Ban trật tự ngoài....để tuyên truyền cách mạng và đấu tranh với chế độ hà khắc của nhà tù. Từ đó đã có ảnh hưởng tới bên ngoài, ngăn cản được tác động của quy chế và chế độ quản lý hà khắc của nhà tù đế quốc, đồng thời thực hiện được chế độ dân chủ tự quản rộng rãi trong đời sống chính trị của nhà tù, khai thác đạt hiệu quả cao nhất các điều kiện vật chất eo hẹp của nhà tù. Đời sống vật chất và tinh thần của anh em tù nhân được đảm bảo. Tháng 5/1941, Tô Hiệu và Chi bộ Nhà tù Sơn La đã quyết định cho ra đời báo Suối Reo,do đồng chí Xuân Thuỷ làm chủ bút. Báo Suối Reo ra đời là một sự kiện lớn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần, cổ vũ động viên rất lớn đối với anh em tù nhân ở nhà tù Sơn La. Chi bộ Nhà tù Sơn La đã được Trung ương Đảng công nhận là một chi bộ đặc biệt, được nhận Chỉ thị, nghị quyết; có trách nhiệm lãnh đạo người tù bảo vệ cuộc sống, phát triển ảnh hưởng của cách mạng trong đồng bào địa phương… Sau này, nhiều chiến sỹ cộng sản là đảng viên Chi bộ Nhà tù Sơn La đều trở thành những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội như đồng chí Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thanh Bình, Mai Chí Thọ…

              Đánh giá về Tô Hiệu, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết:

“Cuộc đời đồng chí tuy ngắn ngủi, những những cống hiến của đồng chí cho dân tộc và cho cách mạng thật là to lớn”.

2- Tấm gương, tinh thần Tô Hiệu là tài sản vô giá đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của lịch sử dân tộc

              Cuộc đời ngắn ngủi và hào hùng của đồng chí Tô Hiệu đã để lại bài học to lớn về truyền thống cách mạng không chỉ với lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng mà còn của cả dân tộc Việt Nam. Tấm gương hy sinh anh dũng, bất khuất của đồng chí là sự tiếp nối những gương anh hùng, liệt nữ trong lịch sử nước nhà: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Bình Trọng, Nguyễn Trung Trực… Tinh thần yêu nước, “thà chết chứ không chịu làm nô lệ” của con dân nước Việt qua tấm gương Tô Hiệu ở thời đại Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được nối dài theo từng giai đoạn lịch sử dân tộc, mỗi khi Tổ quốc bị các thế lực ngoại bang dòm ngó.

              Tấm gương và tinh thần Tô Hiệu còn thể hiện ở thái độ lạc quan cách mạng. Trong địa ngục trần gian của chốn lao tù đế quốc, với vô vàn thiếu thốn, gian khổ về vật chất, sự hành hạ về tinh thần và vật vã với bệnh tật, Tô Hiệu vẫn động viên đồng chí, đồng đội của mình tin tưởng vào tương lai của cách mạng, tương lai của đất nước. Dù biết chắc chắn mình sẽ hy sinh vì bệnh lao phổi đã ở giai đoạn cuối, đồng chí càng hăng say viết tài liệu, viết báo, tuyên truyền và lãnh đạo Chi bộ Nhà tù Sơn La. Ý thức bảo vệ uy tín của Đảng cũng được thể hiện rõ khi bệnh tật hành hạ, đau đớn, đồng chí vẫn kiên cường: “Chắc chắn mình không sống được. Mình có gan tự tử nhưng mình không muốn làm điều đó. Nó để lại nỗi buồn và sự day dứt cho anh em, bởi người không hiểu sẽ có những lời bàn tán không hay. Mặt khác, địch cũng sẽ có thể đặt nghi vấn, phiền phức”. Trước khi đi xa, đồng chí vẫn dặn lại các đồng chí của mình: “ánh sáng ngày mai đã ló ở phía chân trời, hãy chuẩn bị đương đầu với những thử thách lớn nhất”. Và trên hết, cây đào mang tên đồng chí Tô Hiệu tại Nhà tù Sơn La đã trở thành biểu tượng không chỉ cho tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của các chiến sỹ cộng sản tại Nhà tù Sơn La, mà còn là “biểu tượng của sức sống cách mạng vươn lên từ đất chết, là lời nhắn nhủ cho hậu thế rằng mùa xuân nhân loại, chủ nghĩa cộng sản sẽ ra hoa kết trái trên mảnh đất Việt Nam thân yêu”. Năm 1975, Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chiết một cành của cây đào Tô Hiệu về trồng tại Lăng Người.

              Bản lĩnh kiên cường, bất khuất, tinh thần lạc quan cách mạng của Tô Hiệu đã trở thành di sản quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng và lịch sử dân tộc Việt Nam. Hiện cả nước có 60 con đường, trường học và địa danh vinh dự mang tên Tô Hiệu, hình tượng Tô Hiệu và cây đào Tô Hiệu đã trở thành hình tượng văn học, nghệ thuật quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam.

PHẦN III-  TUỔI TRẺ SƠN LA - "SÁNG MÃI TINH THẦN TÔ HIỆU" 

              Nhân kỷ niệm 110 năm Năm sinh của Nhà cách mạng, Liệt sỹ Tô Hiệu (1912- 2022), người cộng sản kiên cường, bất khuất, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của dân tộc. Ghi nhớ những đóng góp to lớn của đồng chí Tô Hiệu với cách mạng Việt Nam nói chung, tỉnh Sơn La nói riêng  tiếp lửa truyền thống cách mạng, tổ chức Đoàn- Hội - Đội tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ như: hành trình theo bước chân những người anh hùng; diễn đàn “Tôi yêu Tổ quốc tôi"; Sinh hoạt chuyên đề ôn lại cuộc đời hoạt động và những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, những tình cảm sâu sắc của đồng chí với quê hương Sơn La; tổ chức các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa"; dâng hương, dâng hoa nghĩa trang liệt sỹ; kết nạp đoàn viên tại các địa điểm lịch sử…

anh tin bai

Các cấp bộ đoàn trong toàn tỉnh triển khai hưởng ứng Tuần sinh hoạt chính trị với chủ đề "Sáng mãi tinh thần Tô Hiệu". Ảnh: Cơ sở

              Cùng với hành trình về “địa chỉ đỏ", tổ chức Đoàn các cấp còn triển khai các hoạt động tình nguyện, tặng quà, khám bệnh, phát thuốc miễn phí các gia đình chính sách, người có công với cách mạng…..Thông qua các hoạt động này, đoàn viên, thanh niên thể hiện tinh thần biết ơn, xung kích vì cuộc sống cộng đồng, qua đó tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, tấm gương đạo đức sáng ngời của các thế hệ đi trước để các thế hệ hôm nay học tập, noi theo. Phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong năm 2022 và những năm tiếp theo.

anh tin bai

Đồng chí Cầm Thị Huyền Trang - Uỷ viên BCH Trung ương Đoàn, Tỉnh uỷ viên, Bí thư tỉnh đoàn trao tặng áo ấm cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại Púng Bánh, Sốp Cộp trong chương trình Hơi ấm mùa đông 2020, xuân tình nguyện 2021. Ảnh Hoàng Quyên

              Hành trình tham quan địa chỉ đỏ đã đem đến những bài học lớn cho đoàn viên, thanh niên về truyền thống yêu nước, đánh giặc giữ nước đầy bất khuất, oai hùng của cha ông; các hoạt động cũng là một chương trình ý nghĩa nhằm tăng cường trải nghiệm, học các bài học lịch sử qua di tích lịch sử để thế hệ trẻ thêm hiểu, trân trọng truyền thống đấu tranh oai hùng của cha ông. Những phẩm chất, cống hiến của đồng chí Tô Hiệu đối với sự nghiệp cách mạng của đảng và dân tộc sẽ luôn là những chuẩn mực để thế hệ trẻ tỉnh Sơn La học tập, thấm nhuần và noi theo.
anh tin bai

Đoàn viên chi đoàn tỉnh đoàn tham quan triển lãm Tinh thần Tô Hiệu tại Bảo tàng Sơn La

PHẦN IV- NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU TẠI NHÀ NGỤC SƠN LA - MỘT TRÁI TIM ĐỎ LỬA NƠI NGỤC TÙ TỐI TĂM 

              Tháng 12/1939, đồng chí Tô Hiệu đến cơ sở ấn loát ở xóm thợ Thượng Lý kiểm tra việc in truyền đơn chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới thì bị địch bắt, mật thám Hải Phòng tra tấn tàn bạo nhưng không moi được bất cứ thông tin gì về tổ chức, tòa đại hình Hải Phòng kết án 5 năm tù khổ sai, đầu năm 1940, đày lên nhà tù Sơn La.

              Tình hình tại nhà tù Sơn La thời điểm đó, từ cuối năm 1939 đến 1942, có 7 đoàn tù chính trị bị đày lên nhà tù Sơn La, trong đó phần đông là cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên của Đảng, những người cộng sản ở nhà tù nhận thức rằng cần phải có một tổ chức thống nhất để chỉ đạo các cuộc đấu tranh. Vì thế, tháng 12/1939, chi bộ lâm thời bí mật được thành lập với 10 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Bí thư. Đến tháng 2/1940, đồng chí Tô Hiệu đã có mặt tại Sơn La, nhận thức được yêu cầu lãnh đạo ngày càng cao đối với đảng viên ở trong tù, chi bộ lâm thời chuyển thành chi bộ chính thức, bầu đồng chí Trần Huy Liệu làm Bí thư chi bộ, đồng chí Tô Hiệu là Chi uỷ viên.

              Tháng 5 năm 1940, Chi uỷ chi bộ triệu tập Đại hội chi bộ để thảo luận và đề ra các chủ trương công tác cụ thể và đồng thời đã bầu đồng chí Tô Hiệu là Bí thư chi bộ nhà tù Sơn La. Theo sự chỉ đạo của đồng chí Tô Hiệu, chi bộ nhà tù Sơn La đã có sự lãnh đạo tập trung thống nhất, có tổ chức, có phương pháp và phương hướng rõ ràng nên đời sống của anh em tù nhân được cải thiện rõ rệt, đồng thời tổ chức được nhiều cuộc đấu tranh thắng lợi.

 

              Với chủ trương “Biến nhà tù đế quốc thành trường học các mạng”, chi bộ chú trọng công tác giáo dục, mở các lớp học văn hoá, lý luận, quân sự, chính trị, binh vận, dân vận,.. Đồng chí Tô Hiệu luôn nhấn mạnh:Chúng ta phải thực hiện được điều Lênin đã dạy, tức là phải biến nhà tù thành trường học cách mạng. Nhà tù là một trong những nơi đào tạo cán bộ của Đảng ta, lý luận phải kết hợp với thực tiễn cách mạng”.

 

              Sự ra đời của Chi bộ đảng nhà tù Sơn La là một sự kiện mang tính lịch sử, chi bộ được tổ chức chặt chẽ, bí mật nhưng rất hiệu quả. Sự thành công của chi bộ nhà tù Sơn La gắn với tên, tuổi của nhiều đồng chí cộng sản trung kiên, trong đó nổi bật vai trò của đồng chí Tô Hiệu. Năm 1942, khi đồng chí Trần Đăng Ninh bị đày lên Sơn La mang theo chỉ thị Nghị quyết Trung ương 8: chi bộ trong các nhà tù phải tổ chức đưa cán bộ vượt ngục về tiếp ứng phong trào cách mạng. Chi bộ tiến hành họp bí mật, thảo luận nội dung đặc biệt này, nhưng nhiều ý kiến trái chiều, nhiều ý kiến cho rằng vượt ngục quá mạo hiểm, chờ mãn hạn trở về với phong trào; hơn nữa trước đó đã có cuộc vượt ngục của 2 đồng chí người Tày - Cao Bằng đã thất bại đau xót, người mất tích trong rừng, người thì bị bêu đầu ngoài cửa ngục. Đồng chí Tô Hiệu với tư cách là cố vấn chi bộ đã phân tích tình hình và đưa ra lập luận thuyết phục để chi bộ bác bỏ chủ trương cấm vượt ngục:“Vượt ngục là điều rất cần, không đưa được ra nhiều thì đưa ra ít, có thất bại thì ta làm lại, còn hơn là ngồi im, biến nhà tù Sơn La thành trường học, nhưng cung cấp cán bộ cho phong trào lúc này là rất cấp bách…”. Nhờ đó mà chi bộ nhà tù Sơn La đã lên kế hoạch chi tiết và tổ chức vượt ngục thành công cho 4 tù nhân chính trị vào tháng 8 năm 1943.

 

              Mặc dù bị lao phổi rất nặng, nhưng Tô Hiệu vẫn cố gắng ôm ngực viết tài liệu huấn luyện cho chi bộ, đồng chí còn nói với anh em rằng: Mình biết chắc mình sẽ chết sớm hơn mọi người, vì vậy mình phải tranh thủ thời gian để chiến đấu phục vụ cho Đảng”. Năm 1943, nghe tin Hồng quân Liên Xô thắng lớn ở Lêningrat, Tô Hiệu đã nhận định Liên Xô sẽ thắng, phát xít sẽ thua, chiến tranh sẽ kết thúc, cách mạng Việt Nam sẽ thắng lợi”.

 

              Sang tháng 2/1944, trải qua một mùa đông khắc nghiệt nơi rừng thiêng nước độc này, bệnh lao phổi tái phát nặng, Tô Hiệu ho ra máu rất nhiều, sức khoẻ giảm sút nghiêm trọng, Chi bộ Nhà tù Sơn La đã lãnh đạo anh em đấu tranh với cai ngục đưa đồng chí về kho xép nhỏ gần trại giam ba gian để chăm sóc tốt hơn cho đồng chí trong những ngày cuối đời. Vào khoảng 10h sáng ngày 07 tháng 3 năm 1944, đồng chí Tô Hiệu đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay và niềm thương tiếc vô hạn của anh em đồng chí. Đây là tổn thất to lớn không chỉ với Chi bộ nhà tù Sơn La mà còn với phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.

 

              Ra đi khi ở tuổi 32, cuộc đời đồng chí Tô Hiệu tuy ngắn ngủi, nhưng những cống hiến cho cách mạng của đồng chí thật to lớn. Đồng chí là tấm gương về tinh thần và ý chí cách mạng chói sáng. Cây đào mang tên Tô Hiệu vẫn còn đó xanh tươi như một biểu tượng cho tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của những người tù cộng sản. Như một lời nhắn nhủ với hậu thế rằng: “Mùa xuân của nhân loại sẽ khai hoa kết trái trên mảnh đất Sơn La nói riêng và cả nước nói chung”.

anh tin bai
 

Cây đào Tô Hiệu tại Nhà tù Sơn La. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Sơn La

 

anh tin bai

Tấm bia đá do tù nhân chính trị khắc khi đồng chí hi sinh hiện đang được trưng bày tại khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La. Ảnh: Hoàng Quyên

              Đồng chí Hoàng Cương, sau này là Đại sứ nước ta tại Hungari, người bị giam cùng đồng chí Tô Hiệu và được cử chăm sóc đồng chí trong những ngày cuối đời, được chứng kiến hơi thở cuối cùng của đồng chí Tô Hiệu tại kho xép và cùng đồng chí Trần Quốc Hoàn đưa đồng chí Tô Hiệu đi an táng tại Nghĩa địa Gốc Ổi. Năm 1989, khi cùng đoàn cựu tù chính trị lên thăm di tích Nhà tù Sơn La, đến kho xép nơi đồng chí Tô Hiệu hy sinh, đồng chí đã viết bài thơ “Viếng anh Tô Hiệu”:

Mồng bẩy tháng ba năm bốn tư (1944)

Tôi khóc bên anh tại ngục tù

Hôm nay trở lại thăm nơi cũ

Viếng anh an giấc ngủ ngàn thu.

 

anh tin bai

Nghĩa trang Gốc Ổi - Nơi an táng đồng chí Tô Hiệu. Ảnh: Sưu tầm

              Bà Nguyễn Thị Tỳ (tức Vân Tường), sinh năm 1912 - người bạn, người đồng chí chung thủy của Tô Hiệu. Đã được hai gia đình kết làm thông gia, nhưng sau 2 lần lần gặp gỡ, Tô Hiệu bị Pháp bắt ở Hải Phòng và đày lên Sơn La. Sau đó, đồng chí Tô Hiệu hy sinh trong ngục Sơn La. Hơn cả một tình yêu thầm lặng, có lẽ bà Tỳ đã cảm phục chí khí của người thanh niên cách mạng Tô Hiệu mà sau này bà không yêu ai và cũng không lập gia đình. Tính từ năm 1939, từ lúc gặp ông lần cuối cùng cho đến khi bà mất (2002) là 63 năm. Suốt cuộc đời bà thờ phụng Tô Hiệu và lập bàn thờ ông ở nhà mình. Đồng chí Tô Gĩ, người em họ, người đồng chí của Tô Hiệu rất cảm phục sự chung tình của cô Vân Tường nên đã tìm tấm ảnh chân dung đồng chí Tô Hiệu gửi tặng Vân Tường. Khi nhận được ảnh, Vân Tường rất cảm động, đã sáng tác bài thơ:

 

“Cùng nhau xa cách đã bao đông

Nhìn ảnh càng thêm chạnh nỗi lòng

Cay đắng bất bình khi nhớ tiếc

 Ngậm ngùi li biệt lúc sầu tuôn….”.

 

anh tin bai

Bà Nguyễn Thị Tỳ - người bạn chung thủy của Tô Hiệu

 

              32 tuổi đời, 18 năm hy sinh vì độc lập của dân tộc, gác lại chuyện riêng, tất cả vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Tô Hiệu là một tấm gương sáng của một chiến sỹ tiên phong, người cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo tài năng của Đảng ta. Để tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của đồng chí, năm 2014, Bộ Chính trị đã công nhận đồng chí Tô Hiệu cùng 18 đồng chí khác là lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, có công lao to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. 

 

              Nhìn lại những bước đường đấu tranh gian khổ mà hào hùng của lớp lớp cha anh đi trước, chúng ta - thể hệ trẻ Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Sơn La nói riêng phải luôn ghi nhớ và biết ơn những công lao to lớn của các bậc cha anh đi trước "Có sách mới áo hoa, đây là nhờ ơn Đảng ta". Nhận thức được những công lao to lớn đó, tuổi trẻ Sơn La đã, đang và sẽ không ngừng phấn đấu học tập, kế thừa và phát huy những giá trị lịch sử cha anh ta để lại, củng cố và phát huy vai trò của tổ chức Đoàn thanh niên trong công cuộc kiến thiết tương lai của quê hương, dân tộc.

 BAN TỔ CHỨC XÂY DỰNG ĐOÀN 

 ---------------------------------------------------------------------------------------------

Tư liệu, tài liệu tham khảo:

[1] Bảo tàng tỉnh Sơn La

[2] Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La

 

 

 

Thông tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 11
  • Hôm nay: 225
  • Trong tuần: 3 714
  • Tất cả: 111202